Home | Login | VietNam
 
  ABOUT US  ACADEMICS  RESEARCH  INTERNATIONAL  STUDENTS
 
TIN TỪ ĐƠN VỊ \ Faculty of Philology
24/04/2009
Nhóm thành ngữ so sánh T1 như B và việc giải nghĩa từ láy tiếng việt

                           TS. Trần Văn Minh

(Nguyên GVC Khoa Ngữ Văn - Đại học Vinh)
 
Tóm tắt
Với cấu tạo đặc biệt của mình, các thành ngữ so sánh kiểu [ t1 như B ] có tác dụng giải nghĩa rất tốt cho từ láy. Thành ngữ tiếng Việt là nguồn ngữ liệu quý cần khai thác triệt để nhằm bổ sung danh sách từ láy, từ đồng nghĩa và thành ngữ đồng nghĩa; đồng thời là nguồn dẫn dụ sinh động khi giải nghĩa từ trong từ điển và trong lời nói.
                                                  ------------------
            1. Tiếng Việt có hàng ngàn thành ngữ. Theo cách hiểu thông thường, "thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái - cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ" [3; 27].
Thành ngữ so sánh (TNSS) chiếm tỉ lệ đáng kể trong kho thành ngữ tiếng Việt. Tỉ lệ này trong danh sách thành ngữ của Hoàng Văn Hành [3] là 15,31 % (494 TNSS / 3.225 TN). 
Trong tư liệu của chúng tôi về thành ngữ tiếng Việt, có 895 TNSS. Số TNSS này gồm 2 kiểu:
a) [ t như B ] : gồm 777 đơn vị (86, 81 %); ví dụ: ăn như hùm đổ đó; bắn như vãi trấu; đẹp như cái tép kho tương; câm như hến; chằng chịt như mạng nhện; im ỉm như gái ngồi phải cọc; lầm rầm như thầy bói nhầm quẻ; xì xồ như giặc Ngô vỡ tàu; xúng xính như lính về quê;…
b) [ như B ] : gồm 118 đơn vị (13, 19 %); ví dụ: như buồm gặp gió; như buồn ngủ gặp chiếu manh; như lửa đổ thêm dầu; như nắng hạn gặp mưa rào; như nước đổ đầu vịt; như vịt nghe sấm; như xẩm sờ voi; …
Trong đó, [ t ] : từ nêu cơ sở so sánh, [ như ] : từ so sánh, [ B ] yếu tố nêu cái so sánh.
Theo cấu tạo của yếu tố [ t ], có thể phân biệt trong kiểu TNSS [ t như B ] hai nhóm: [ t1 như B ] (trong đó [ t 1 ] là từ láy đôi) và nhóm [ t2 như B ] (trong đó [ t2 ] là từ có cấu tạo khác).
Bài viết này khảo sát nhóm TNSS [ t1  như B ] nhằm giải thích lý do vì sao nhóm TNSS này có khả năng giải nghĩa cho từ láy [t 1 ], đồng thờikhẳng định các vai trò khác của nhóm (bổ sung danh sách từ láy, từ đồng nghĩa, thành ngữ đồng nghĩa; làm nguồn dẫn dụ sinh động khi giải nghĩa từ tiếng Việt).
2. Nhóm TNSS [ t1 như B ] gồm 148 đơn vị , chiếm 19, 04 % trong kiểu TNSS [ t như B ].
Qua khảo sát các yếu tố, nhất là xem xét kỹ từng dạng cấu tạo yếu tố [ B ] trong hình thái - cấu trúc của các thành ngữ trong nhóm, có thể thấy rõ lý do tại sao nhóm TNSS   [t1 như B ] có vai trò nổi bật : trực tiếp giải nghĩa cho từ láy [t1 ] mở đầu mỗi thành ngữ trong nhóm.
2.1. Yếu tố [ t1]
            Trong vai trò yếu tố [ t1 ] nêu cơ sở so sánh, 114 từ láy đôi được dùng để mở đầu cho 148 TNSS của nhóm [ t1 như B ]. Trong đó, 82 từ láy có 1 lượt dùng, 28 từ láy có 2 lượt dùng, 2 từ láy có 3 lượt dùng và 1 từ láy có 4 lượt dùng. Như vậy, có 31 / 114 từ láy được dùng trong hơn một TNSS. Điều này rất đáng lưu ý. Nó vừa cho phép chúng ta xác định thêm được các chuỗi hoặc cặp thành ngữ đồng nghĩa trong tiếng Việt, vừa cho ta thấy sự đa dạng trong cách người Việt dùng những yếu tố [ B ] khác nhau (nêu những cái so sánh không giống nhau) sau cùng một từ láy (nêu cơ sở so sánh) nhằm trực tiếp giải nghĩa cho từ láy đó.
Trong 114 từ láy đôi, có 95 tính từ - hầu hết là từ chỉ trạng thái (87 từ) - và 19 động từ. Nghĩa của các từ láy này rất mơ hồ, khó nắm bắt, do chỗ 94 / 114 từ láy gồm 2 tiếng vô nghĩa (ví dụ: lúng túng, lôi thôi, loay hoay, lừ đừ, léo nhéo, vò võ, xì xồ, xúng xính,…); 20 từ láy còn lại chỉ chứa một tiếng có nghĩa (ví dụ: nem nép, ngây ngô, thì thầm, thì thụt, vênh váo, nhăn nhó, quanh quẩn,…). 
2.2. Yếu tố [ như ]
Tiếng Việt có nhiều từ ngữ khác nhau để biểu thị quan hệ giữa cái được so sánh và cái so sánh (như, tày, như thể, như thể là, tựa, tựa như, là, v.v…). Tuy vậy, trong 148 TNSS của nhóm [ t1 như B ], chỉ duy nhất từ như được dùng để biểu thị quan hệ so sánh giữa [ t ] và [ B ].
           2.3. Yếu tố [ B ]
Yếu tố [ B ] bắt buộc có mặt trong cấu trúc so sánh nói chung và trong các TNSS thuộc nhóm [ t1 như B ] nói riêng. Hiệu quả giải nghĩa cho các từ láy [ t1 ] mở đầu TNSS tỉ lệ thuận với tính xác định về nghĩa của yếu tố [ B ]. Đến lượt mình, tính xác định về nghĩa của yếu tố [ B ] lại do chính cách cấu tạo của yếu tố này quyết định.
         Trong các TNSS [ t1 như B ], yếu tố [ B ] thuộc các bậc cấu tạo khác nhau: danh từ (trong 7 TNSS), cụm danh từ (trong 38 TNSS), cụm động từ (trong 8 TNSS), cụm chủ - vị (trong 95 TNSS).
a) Trong số 7 danh từ làm yếu tố [ B ], có 6 từ ghép chính - phụ (lêu đêu như cò hương ; lượt bượt như lễ sinh; chằng chịt như mạng nhện ; ỏn ẻn như quan thị;  bầy nhầy như thịt bụng; lạch bạch như vịt bầu) nên nghĩa định danh của chúng rất rõ ràng, dễ hiểu. Nghĩa của từ ngẫukết bù nhìn (lơ láo như bù nhìn) cũng rất rõ, do dùng với nghĩa gốc ("vật giả hình người dùng để dọa chim, thú hoặc hoặc dùng trong diễn tập chiến đấu" [6; 84]).
b) Tất cả 38 cụm danh từ làm yếu tố [ B ] trong TNSS nhóm [ t1 như B ] đều có cấu tạo giống nhau. Chúng chỉ gồm danh từ trung tâm và một định ngữ. Các danh từ trung tâm đều gọi tên những sự vật quen thuộc trong đời sống người Việt. Chính kiểu cấu tạo [danh từ chỉ sự vật + định ngữ] này đã làm cho yếu tố [ B ] (cái so sánh) mang nghĩa cụ thể và rất dễ nhận thức. Ví dụ: dửng dưng như bánh chưng ngày tết; lì lì như đì anh hàng thịt ; khinh khỉnh như chĩnh mắm thối ; lang thang như thành hoàng làng khó ; nhung nhúc như rươi tháng chín; trơ trơ như cột nhà cháy; v.v..  
c) Cả 8 cụm động từ làm yếu tố [ B ] trong TNSS nhóm [ t1 như B ] cũng cùng một kiểu cấu tạo. Chúng đều chỉ gồm một động từ trung tâm và một bổ ngữ trực tiếp (do các động từ trung tâm là động từ ngoại động). Nhờ động từ trung tâm gọi tên những hoạt động quen thuộc trong đời sống hàng ngày cộng với bổ ngữ chỉ những sự vật cụ thể nên yếu tố [ B ] (cái so sánh) trở nên hết sức dễ hiểu. Ví dụ: lằng nhằng như cưa rơm; lật lọng như trở bàn tay ; lúng búng như ngậm hột thị ; nháo nhác như gà lạc mẹ; the thé như xé vải ; quanh quẩn như chèo đò đêm; thì thầm như buôn bạc giả ; v.v..
d) Hầu hết các cụm chủ - vị làm yếu tố [ B ] đều được cấu tạo theo cùng một mô thức [ c - v - b ], trong đó [ c ] là danh từ (hoặc cụm danh từ) nêu ra sự vật (đồ vật, người, động vật, thực vật,…) làm chủ thể của hoạt động, [ v ] là động từ nêu lên hành động của chủ thể, [ b] là bổ ngữ (trực tiếp hoặc gián tiếp). Ví dụ: đayđảynhư gái rẫy chồng ốm ; hùng hục như trâu húc mả ; khép nép như dâu mới về nhà chồng ; lấc láo như quạ vào chuồng lợn ; lẩm cẩm như xẩm đi đường cong ; lẩy bẩy như Cao Biền dậy non ; lèo nhèo như mèo vật đống rơm, lộp bộp như gà mổ mo ; ngoe nguẩy như cua gẫy càng ; nhùng nhằng như hai thằng một khố ; rầu rĩ như đĩ về già ; ró ráy như cáy vào hang cua ; tất tưởi như nợ đuổi sau lưng ; vênh váo như bố vợ phải đấm ; xì xồ như giặc Ngô vỡ tàu , v.v..
            Như vậy, chính đặc điểm cấu tạo của yếu tố [ B ] là điều kiện tiên quyết tạo nên tính cụ thể về nghĩa của nó, để từ đó tạo nên hiệu quả giải nghĩa cho từ láy [t1] (vốn có nghĩa rất mơ hồ) mở đầu mỗi thành ngữ trong nhóm [ t1 như B ]. Có thể hình dung rõ hơn về hiệu quả giải nghĩa này qua việc đối sánh hai tình huống : 1/ Nếu bị hỏi: "Thế nào là lạch bạch ?", "Thế nào là len lét ?", " Thế nào là lúng búng ?",  "Thế nào là lừ đừ ?", v.v.. thì mỗi chúng ta thật khó trả lời gọn ghẽ, chóng vánh và chính xác. 2/ Nhưng nếu được hỏi: "Lạch bạch (len lét, lúng búng, lừ đừ, v.v…) như thế nào?" thì chúng ta có thể tự tin dùng ngay các thành ngữ trong nhóm này để trả lời một cách thuyết phục: "Lạch bạch như vịt bầu", "Len lét như rắn mồng năm", "Lúng búng như ngậm hột thị", "Lừ đừ như ông từ vào đền", v.v..
             2.4. Vần là một yếu tố ngữ âm khá nổi bật của các TNSS nhóm [ t1 như B ]. Có 70 / 148 thành ngữ thuộc nhóm [ t1 như B ] là thành ngữ có vần (chiếm 47,3 %). Trong số đó, theo vị trí của tiếng hiệp vần, có 30 thành ngữ có vần cách một (ví dụ: lăn lóc như cóc đói ; lắng xắng như nhặng bu phân ; lanh chanh như hành không muối ; …), 35 thành ngữ có vần cách hai (ví dụ: đay đảy như gái rẫy chồng ốm; lập cập như ông gặp bà; lật đật như ma vật ông vải; hùng hục như trâu húc mả; …), 3 thành ngữ có vần cách ba (lẩy bẩy như Cao Biền dậy non; lầm rầm như thầy bói nhầm quẻ; lúng búng như chó ăn vụng bột) và 2 thành ngữ có vần cách bốn (nơm nớp như cá nằm trên thớtnháo nhác như gà phải cáo). Do 63 / 70 thành ngữ hiệp vần chính (90 %) nên mức độ hòa âm trong các TNSS có vần thuộc nhóm TNSS này rất cao.
Tính rõ nghĩa của yếu tố [ B ] trong tất cả các thành ngữ và tính vần vè trong gần một nửa số TNSS thuộc nhóm [ t1 như B ] đã tạo nên tính dễ nhớ, dễ lưu truyền và dễ sử dụng của các thành ngữ này trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của người Việt từ xưa đến nay.  
             3. Tác dụng giải nghĩa cho từ láy mở đầu các thành ngữ của nhóm TNSS [ t1 như B ] là điều đã rõ. Từ thực tế đó, các soạn giả từ điển tiếng Việt nên dùng nhiều hơn nữa các TNSS trong nhóm này làm dẫn dụ khi giải nghĩa cho các từ láy âm ở mỗi mục từ hữu quan. Đáng tiếc là cho đến nay, điều này chưa được quan tâm đúng mức.
 3.1.    Trong Từ điển tiếng Việt, chỉ 7 / 114 từ láy mở đầu nhóm TNSS [ t1 như B ] được dẫn dụ thành ngữ khi giải nghĩa từ láy : bầy nhầy (6; 51), léo nhéo (6; 539), lúng túng (6; 573), nơm nớp (6; 719), ró ráy (6; 801), tiu nghỉu (6; 966), thỏ thẻ (6; 912). Ngay trong Từ điển từ láy tiếng Việt, trong số 114 từ láy mở đầu nhóm TNSS [ t1 như B ], chỉ 24 từ sau đây được dẫn dụ thành ngữ khi giải nghĩa từ láy: dửng dưng (7; 113), hùng hục (7; 117), lạch bạch (7; 218), lanh chanh (7; 234), lấc láo (7; 240), lẩy bẩy (7; 256), lêu đêu (7; 268), lò dò (7; 278), lộp bộp (7; 304), lụ khụ (7; 313), lúng búng (7; 321), lúng túng (7; 322), ngây ngô (7; 315), nhao nhác (7; 357), nháo nhác (7; 387), nhùng nhằng (7; 416), nơm nớp (7; 423), oai oái (7; 427), oang oang (7; 428), ró ráy (7; 467), the thé (7; 505), thin thít (7; 509), tiu nghỉu (7; 522) và thỏ thẻ (7; 510).
Giá như, chẳng hạn, sau lời giải nghĩa 1. cho từ láy lôi thôi ("1. Luộm thuộm, không gọn gàng, thường trong cách ăn mặc"), Từ điển tiếng Việt dẫn dụ thêm bằng chuỗi TNSS sau đây thì nghĩa của từ láy này sẽ dễ hiểu hơn rất nhiều: lôi thôi như cá trôi xổ ruột ; lôi thôi như con bạch tuộc; lôi thôi như mèo xổ ruột.
3.2.Trong hai từ điển trên, một số từ láy mở đầu TNSS thuộc nhóm [ t1 như B ] chưa được đưa thành mục từ để giải nghĩa. Từ điển tiếng Việt không có 13 mục từ láy sau: lắng xắng (như nhặng bu phân), lật vật (như quai sa vật vải ; ~ như sa vật ống vải), lì lì  (như đì anh hàng thịt ; ~như tiền chì hai mặt), lò khò (như con cò bợ), ngầm ngập (như ông gặp bà), ngun ngủn (như gà cụt đuôi), ngũn ngỡn (như áo con thuyền chài, áo ngắn mặc ngoài, áo dài mặc trong), nhào nhào (như chào mào mổ đom), nhao nhác (như ong vỡ tổ), nhăng nhẳng (như chó cắn ma), tấp tửng (như trẻ được tấm bánh), thin thít (như thịt nấu đông), xờ rờ (như thầy bói cháy nhà). Từ điển từ láy tiếng Việt [7] không có 8 mục từ láy sau: lắng xắng (như nhặng bu phân), lật vật (như quai sa vật vải ; ~ như sa vật ống vải), lò khò (như con cò bợ), ngun ngủn (như gà cụt đuôi), nhăng nhẳng (như chó cắn ma), tấp tửng (như trẻ được tấm bánh), xì xì (như chì đổ lỗ), xờ rờ (như thầy bói cháy nhà).
Thực tế này cho thấy cần đẩy mạnh việc sưu tầm các TNSS còn trôi nổi trong khẩu ngữ dân gian để qua đó, vừa có thể bổ sung số lượng từ láy cho từ điển, vừa có thêm nhiều dẫn dụ khi giải nghĩa các từ láy. 
4. Tác giả Hoàng Văn Hành đã xem chuyên khảo cuối cùng của mình như "một thử nghiệm để tìm đường, nhằm góp phần làm rõ đối tượng, mục đích, nhiệm vụ, hệ vấn đề, phương pháp, v.v… của thành ngữ học tiếng Việt." [3; 22]. Trong sự phát triển của thành ngữ học tiếng Việt, ngoài các sưu tập và nghiên cứu về thành ngữ nói chung, còn cần biên soạn các sách như "Thành ngữ đồng nghĩa - trái nghĩa tiếng Việt". Ngữ liệu cho cuốn sách như thế chỉ có được qua sưu tầm và khảo sát kỹ lưỡng toàn bộ kho tàng thành ngữ tiếng Việt.
Trong số 114 từ láy đôi mở đầu TNSS nhóm [ t1 như B ], có 31 từ được dùng mở đầu cho hơn một thành ngữ. Những TNSS có từ láy mở đầu giống nhau là những thành ngữ đồng nghĩa với nhau. Như vậy, qua nhóm TNSS [ t1 như B ] này, chúng ta có 31 chuỗi hoặc cặp thành ngữ tiếng Việt đồng nghĩa dưới đây: 
1) lúng túng như cá vào rọ (~ như ếch vào xiếc; ~ như gà mắc tóc ; ~ như thợ vụng mất kim); 2) lôi thôi như cá trôi xổ ruột (~ như con bạch tuộc ; ~ như mèo xổ ruột) ; 3) giãy nảy như đỉa phải vôi (~ như bị điện giật) ; 5) im ỉm như bà cốt uống thuốc (~ như gái ngồi phải cọc) ; 5) lang lảng như chó cái trốn con (~ như chó phải dùi đục) ; 6) lăng xăng như thằng mất khố (~ như nhặng bu phân) ; 7) lầm rầm như đĩ khấn tiên sư (~ như thầy bói nhầm quẻ) ; 8) len lét như chuột ngày (~ như rắn mồng năm) ; 9) léo nhéo như mẹ ranh (~ như mõ réo quan viên); 10) lêu đêu như cây tre đực (~ như cò hương) ; 11) lì lì như đì anh hàng thịt (~ như tiền chì hai mặt) ; 12) lơ láo như bù nhìn (~ như chó thấy thóc) ; 13) lờ đờ như đom đóm đực (~ như gà ban hôm) ; 14) lúng búng như chó ăn vụng bột (~ như ngậm hột thị) ; 15) ngất ngưởng như trứng chồng (~ như xã trưởng mất vía) ; 16) ngây ngô như chúa Tàu nghe kèn (~ như gà mờ); 17) ngoe nguẩy như chó vẫy đuôi (~ như cua gẫy càng) ; 18) nguây nguẩy như ả quẩy tôm (~ như gái rẫy chồng ốm) ; 19) nháo nhác như gà lạc mẹ (~ như gà phải cáo) ; 20) nhăn nhó như khỉ ăn gừng (~ như nhà khó hết ăn); 21) nhởn nhơ như con đĩ đánh bồng (~ như con phường chèo) ; 21) nhùng nhằng như cưa rơm (~ như hai thằng một khố; 22) nơm nớp như cá nằm trên thớt (~ như kẻ cướp sắp vào nhà) ; 23) oai oái như hai gái lấy một chồng (~ như Phủ Khoái xin cơm) ; 24) rành rành như canh nấu hẹ (~ như canh nấu thịt) ; 25) rầu rĩ như đĩ về già (- như đĩ phải tiêm la) ; 26) tất tả như bà đá ông (~ như người đi ăn cỗ hậu) ; 27) te tái như gà mái nhảy ổ (~ như gà mắc đẻ) ; 28) tiu nghỉu như chó cụt đuôi (~ như mèo mất tai) ; 29) thì thầm như buôn bạc giả (~như kẻ trộm chia của) ; 30) vênh váo như bố vợ phải đấm (~ như khố rợ phải lấm) ; 31) xúng xính như lễ sinh (~ như lính về quê).
Các chuỗi hoặc cặp thành ngữ đồng nghĩa này thể hiện sự quan sát đa diện của người Việt khi chọn yếu tố [ B ] để biểu thị mức độ hoặc thể cách của [ t ].
            Trong nhóm TNSS [ t1 như B ] còn có 4 cặp thành ngữ mà yếu tố [ B ] trong mỗi cặp đều nêu hình ảnh cái so sánh giống nhau: 1) lằng nhằng nhưcưa rơm / nhùng nhằng như cưa rơm; 2) đay đảy nhưgái rẫy chồng ốm / ngoay ngoảy nhưgái rẫy chồng ốm ; 3) lập cập nhưông gặp bà / ngầm ngập nhưông gặp bà; 4) lơ láo nhưchó thấy thóc / ngông nghênh nhưchó thấy thóc. Trong số 4 cặp trên, chúng tôi chỉ xem các từ láy trong hai cặp 1) và 2) là những cặp từ đồng nghĩa: lằng nhằng - nhùng nhằng; đay đảy - ngoay ngoảy; còn các từ láy trong hai cặp 3) và 4) không phải là những cặp từ đồng nghĩa vì tuy có yếu tố [ B ] giống nhau nhưng trong mỗi thành ngữ của cặp, [ B ] biểu thị thể trạng của những chủ thể khác nhau (lệ như, ông sung sức thì "ngầm ngập như ông gặp bà", còn ông già yếu thì đành "lập cập như ông gặp bà").
5. Tóm lại, qua khảo sát nhóm 148 TNSS mở đầu bằng từ láy, chúng ta hiểu vì sao các TNSS này có tác dụng giải nghĩa rất tốt cho từ láy mở đầu thành ngữ, đồng thời thấy rõ: thành ngữ là nguồn ngữ liệu cần khai thác triệt để nhằm bổ sung danh sách từ láy, từ đồng nghĩa và thành ngữ đồng nghĩa trong tiếng Việt.
 
Tài liệu tham khảo
1. Hoàng Văn Hành (1985), Từ láy trong tiếng Việt, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội
2. Hoàng Văn Hành chủ biên (2002), Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002
3. Hoàng Văn Hành (2005), Thành ngữ học tiếng Việt, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội
4. Nguyễn Lực – Lương Văn Đang (1993), Thành ngữ tiếng Việt, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội
5. Trần Văn Minh, Diện mạo và vai trò của từ láy trong thơ Việt Nam (Trong sách “Những vấn đề văn học và ngôn ngữ học”. Nxb. ĐHQG Hà Nội, 2004)
6. Du Yên tuyển chọn (2004), Thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, Nxb Tổng hợp Đồng Nai
7. Viện Ngôn ngữ học (1994), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học - Nxb. Giáo dục, Hà Nội
8. Viện Ngôn ngữ học (1994), Từ điển từ láy tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội
--------------------------
                                                             Vinh,tháng 4 năm 2008
Phản hồi ý kiến   In tin   
 Trở về đầu trang Trở về đầu trang  

 
 

 © 2008  Vinh University

 

     Add: 182, Le Duan Street - Vinh City - Nghe An Province

    Tel:             (038)3855452      Fax: (038)3855269; Email: international@Vinhuni.edu.vn; 

Website: www.vinhuni.edu.vn/en