Trang chủ |   Đăng nhập | English
 
    GIỚI THIỆU    ĐÀO TẠO    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC    HỢP TÁC QUỐC TẾ    SINH VIÊN
  Nghiên cứu khoa học
  Các đề tài đã nghiệm thu
Tạp chí khoa học
  Thông báo
  NCKH Sinh Viên
  Thiết bị
  Nghiên cứu khoa học
02/03/2012
Một số kết luận chính thức về kết quả Hội thảo Mai Thúc Loan với Khởi nghĩa Hoan Châu

 

Nhằm chuẩn bị kỷ niệm 1300 năm Mai Thúc Loan dấy cờ khởi nghĩa Hoan Châu, Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Nam Đàn đã có buổi làm việc với khoa Lịch sử, Đại học Vinh về việc công bố, khẳng định một số kết quả của Hội thảo “Mai Thúc Loan với Khởi nghĩa Hoan Châu”. Chúng tôi xin trích đăng các kết luận chủ yếu của cuộc hội thảo này:
Được sự đồng ý của Bộ Giáo dục và Đào tạo, sự quan tâm chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy và UBND tỉnh Nghệ An, trong hai ngày 8 và 9 tháng 11 năm 2008, tại Thành phố Vinh, Trường Đại học Vinh phối hợp với Viện Sử học đã tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia "Mai Thúc Loan với khởi nghĩa Hoan Châu". Hội thảo đã thu hút sự tham gia của nhiều nhà sử học của Viện Sử học, Hội khoa học Lịch sử Việt Nam, khoa Lịch sử các trường đại học ở Hà Nội và Vinh, nhiều nhà nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, quân sự của Quân khu IV, tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, với sự hiện diện của nhiều vị lão thành cách mạng, lãnh đạo tỉnh Nghệ An và các huyện liên quan cùng nhiều cán bộ, những người yêu thích lịch sử, quan tâm đến chủ đề hội thảo. Hội thảo đã nhận được hơn 30 báo cáo và tham luận.
Sau Lời khai mạc, phát biểu chào mừng của lãnh đạo tỉnh Nghệ An, lãnh đạo Trường Đại học Vinh và Báo cáo đề dẫn của Viện Sử học, Hội thảo đã nghe một số báo cáo chủ yếu và giành nhiều thời gian cho việc thảo luận. Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội khoa học Lịch sử Việt Nam chủ trì hội thảo thay mặt Chủ tịch đoàn đã kết luận hội thảo về những điểm chính như sau:
1. Tư liệu về Mai Thúc Loan và cuộc khởi nghĩa Hoan Châu cũng như lịch sử các cuộc khởi nghĩa thời Bắc thuộc nói chung, rất ít ỏi. Ở nước ta, công việc biên soạn lịch sử mới bắt đầu từ thời Lý và những tác phẩm xưa nhất còn lại đến nay là Đại Việt sử lược, Việt điện u linh thời Trần. Các nhà sử học khi biên soạn các bộ sử của ta phải tra cứu, tham khảo các thư tịch cổ của Trung Quốc kết hợp với nguồn tư liệu trong nước, phần lớn là huyền thoại, truyền thuyết, thần tích... để chép về thời kỳ Bắc thuộc, trong đó có khởi nghĩa Mai Thúc Loan. Các di tích còn lại cũng rất ít, tư liệu tại các địa phương dưới dạng thần tích, gia phả, truyền thuyết, lễ hội dân gian...chưa được điều tra, thu thập và xác minh đầy đủ. Tình trạng tư liệu như vậy, không tránh khỏi có những nhận thức, quan điểm khác nhau khi viết về Mai Thúc Loan và cuộc khởi nghĩa Hoan Châu. Điều đó cũng thể hiện qua các báo cáo gửi đến hội thảo và qua cuộc thảo luận tại hội thảo. Nhưng qua trao đổi trên tinh thần thẳng thắn, khoa học, tôn trọng lẫn nhau vì mục tiêu cùng nhau tìm ra sự thật, xác minh lại những vấn đề liên quan đến chủ đề hội thảo, chúng ta đã đi đến sự nhất trí cao trên nhiều vấn đề cơ bản và cũng thống nhất với nhau về những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.
2. Về quê hương của Mai Thúc Loan, từ thế kỷ XIX, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, đã ghi chú là người Mai Phụ huyện Thiên Lộc. Do những thay đổi về đơn vị hành chính nên làng/thôn Mai Phụ xưa nay thuộc xã Mai Phụ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Từ Mai Phụ, bà mẹ họ Mai đã dời lên Ngọc Trừng, nay thuộc xã Nam Thái, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Nhiều truyền thuyết dân gian, gia phả, văn tế, hát chầu văn... đều xác nhận quê hương của họ Mai từ Mai Phụ dời lên Ngọc Trừng. Tại vùng xã Nam Thái và thị trấn Nam Đàn còn bảo tồn nhiều di tích quý như mộ Mẹ vua Mai, đền thờ Mai Hắc Đế, di tích thành Vạn An cùng nhiều tư liệu và lễ hội dân gian gắn liền với cuộc khởi nghĩa, kháng chiến của vua Mai với niềm tôn vinh của nhân dân. Về gia thế Mai Thúc Loan cũng còn một số khác biệt nhất định giữa tư liệu truyền thuyết, gia phả với Hương Lãm Hắc Đế ký trong Tân đính hiệu bình Việt điện u linh cần tiếp tục nghiên cứu, xác minh, nhưng tất cả đều phản ánh Ông là một người yêu nước, dũng cảm và mưu trí, sớm nuôi chí diệt thù cứu nước, cứu dân.
3. Về năm khởi nghĩa và thất bại, hầu hết các công trình nghiên cứu trước đây đều chép vào năm 722. Do đó, có người coi như một cuộc khởi nghĩa địa phương, chỉ nổ ra trên đất Hoan Châu, có người cho nghĩa quân đã tấn công phủ thành An Nam nhưng thất bại. Nguyên do là các công trình đó đều dựa vào sự ghi chép của chính sử, trước hết là ba bộ quốc sử Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử ký tiền biên, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, đều chép thống nhất cuộc khởi nghĩa bùng nổ và thất bại trong năm Nhâm Tuất, niên hiệu Khai Nguyên thứ 10 đời vua Đường Huyền Tông, tức năm 722. Kết quả thu thập, khai thác, đối chiếu các nguồn tư liệu liên quan của nước ta và của Trung Quốc, nhất là An Nam chí lược của Lê Tắc, Hương Lãm Mai Đế ký của Chư Cát Thị trong Tân đính hiệu bình Việt điện u linh của ta và Cựu Đường thư, Tân Đường thư (phần thực lục và liệt truyện) kết hợp với một số sách khác như Sách phủ nguyên qui, Quảng Tây thông chí... trong thư tịch cổ Trung Quốc, cho phép xác định cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan bùng nổ năm Quý Sửu, năm đầu niên hiệu Khai Nguyên đời vua Đường Huyền Tông, tức năm 713. Về năm thất bại, cũng từ những nguồn sử liệu trên cho phép kết luận là năm Nhâm Tuất, niên hiệu Khai Nguyên thứ 10 đời vua Đường Huyền Tông, tức năm 722.
4. Hội nghị nhất trí đánh giá, đây là qui mô và thắng lợi của một cuộc khởi nghĩa dân tộc rất lớn. Dưới sự tổ chức của Mai Thúc Loan, cuộc khởi nghĩa nổ ra ở Hoan Châu rồi nhanh chóng lan ra các châu huyện, tấn công chiếm được phủ thành An Nam (Hà Nội). Sử Trung Quốc ghi nhận, Mai Thúc Loan "vây đánh châu huyện" (Cựu Đường thư, Q.8), "dấy quân 32 châu" (Tân Đường thư, Q.207), "bên ngoài liên kết với các nước Lâm Ấp, Chân Lạp, Kim Lân, chiếm giữ vùng biển Nam, quân chúng đến 40 vạn" (Tân Đường thư, Q. 207), "mưu hãm An Nam phủ" (Tân Đường thư, Q.184), "tự xưng Hắc Đế" Cựu Đường thư, Q.184). Như vậy là cuộc khởi nghĩa đã thắng lợi, vây hãm và chiếm được phủ thành An Nam, giải phóng cả nước, xây dựng và bảo vệ được chính quyền độc lập trong gần 10 năm (713-722). Đặc biệt Mai Thúc Loan đã xưng đế, tức vua Mai Hắc Đế, biểu thị tinh thần độc lập, ý thức chủ quyền quốc gia sánh ngang với hoàng đế phương bắc. Thành Vạn An (Nam Đàn, Nghệ An) là căn cứ khởi nghĩa đã được xây dựng thành quốc đô. Vua Đường Huyền Tông sau khi dẹp yên nội loạn và ổn định tình hình mọi mặt, năm 722 mới phát đại quân sang đàn áp cuộc khởi nghĩa, đánh bại chính quyền vua Mai, chiếm lại nước ta.
5. Trong khi trao đổi về nguyên nhân cuộc khởi nghĩa và các truyền thuyết về Mai Thúc Loan, hội thảo có trao đổi về chế độ cống quả vải (lệ chi) trong thời Bắc thuộc và thời khởi nghĩa Mai Thúc Loan. Trong các truyền thuyết về Mai Thúc Loan có truyền thuyết đi phu cống vải và từ dạng truyền khẩu đã đi vào hát chầu văn, vào thơ, khá phổ biến ở vùng Nghệ Tĩnh nhất là vùng Nam Đàn. Đó là một bộ phận trong kho tàng truyền thuyết dân gian mà giá trị của nó cần được nhìn nhận và đánh giá theo tiêu chí của thể loại văn học dân gian. Những truyền thuyết đó ít nhiều có xuất phát từ lịch sử và phản ánh dưới những khía cạnh khác nhau, trực tiếp hay gián tiếp, thực tế lịch sử đã qua được lưu giữ hay ảnh xạ qua ký ức của nhiều thế hệ. Nhưng coi truyền thuyết như lịch sử là sai lầm về nhận thức và phương pháp luận sử học. Một số tác giả khi biên soạn sách giáo khoa hay lịch sử địa phương, lịch sử dân tộc, không nghiên cứu, đối chiếu với các sử liệu đáng tin cậy, đem các truyền thuyết Mai Thức Loan đi phu cống vải vào lịch sử là sai lầm. Chế độ cống quả vải thời Bắc thuộc cần được nghiên cứu và xác minh từ các cứ liệu lịch sử, trước hết là sử liệu được tìm tòi và giám định trong các nguồn thư tịch cổ. Căn cứ vào ghi chép của Kê Hàm trong Nam phương thảo mộc trạng thì năm 111 TCN, Hán Vũ đế sau khi chiếm Nam Việt, đã sai đem cây vải từ Giao Chỉ về trồng, nhưng thất bại nên bắt cống nạp hàng năm (tuế cống). Giao Chỉ ở đây là quận Giao Chỉ ở miền bắc nước ta, chứ không thể là bộ Giao Chỉ bao gồm cả miền Lĩnh Nam (nam Trung Quốc) vì đơn vị này thành lập sau đó, vào năm 106 TCN (Tiền Hán thư, Q.6). Hơn nữa, Cổ kim sử loại văn tùng (Q.25) còn cho biết đến thời Tam quốc, vua Ngụy Văn đế (220-226) hạ chiếu bắt Giao Chỉ và Cửu Chân hàng năm phải cống nạp quả lệ chi (vải) và long nhãn (nhãn). Từ những cứ liệu đó, có thể xác định chế độ cống vải đã từng tồn tại ở nước ta, bắt đầu từ thời Tây Hán và ít nhất cho đến đầu thời Tam Quốc vẫn còn. Còn cách thức bảo quản và vận chuyển như thế nào, sử sách không ghi chép và chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu. Nhưng đến thời Đường, theo Tân Đường thư (Q. 43 thượng), Tư trị thông giám (Q.250), Thông giám tổng loại (Q.6) thì vải cống lấy từ Lĩnh Nam, chủ yếu từ Nam Hải, và vận chuyển khẩn cấp bằng ngựa trạm. Sau đó, nhà Đường cho ngâm vải vào nước muối hay mật để bảo quản. Đến đời vua Đường Ý Tông (860-874) thì có lệnh đình chỉ chế độ tiến vải (Đường đại chiếu lệnh tập, Q. 86). Như vậy vào thời nhà Đường, chế độ cống vải không còn thi hành ở nước ta nữa và dĩ nhiên, không thể dựa vào truyền thuyết để cho rằng Mai Thức Loan đã từng đi phu cống vải và cũng không thể coi chế độ lao dịch cống vải là nguyên nhân, dù là nguyên nhân trực tiếp của cuộc khởi nghĩa. Truyền thuyết này có thể phản ánh chế độ lao dịch hà khắc của thời Bắc thuộc nói chung. Cứ liệu có giá trị khoa học để xác minh việc này là những sử liệu được ghi chép trong các thư tịch đáng tin cậy. Còn bản đồ cây vải thời Đường cũng như thời Tây Hán, không thể suy đoán hay áp đặt từ bản đồ phân bố cây vải hiện nay hay thời gian gần đây. Việc bảo quản và vận chuyển quả vải trên đường dài cần đặt ra để nghiên cứu, chứ chưa thể coi là cứ liệu sử học có đủ giá trị khoa học để khẳng định hay phủ nhận chế độ cồng vải từ nước ta đến kinh thành nhà Đuờng hay nhà Tiền Hán (đều ở Trường An).
6. Xung quanh cuộc khởi nghĩa Mai Thức Loan như quá trình chuẩn bị, công việc vận động nhân dân và thủ lĩnh các vùng, việc liên kết với Chiêm Thành, Chân Lạp, Kim Lân thực hiện thế nào và bằng phương thức gì...còn phải tiếp tục thu thập thêm tư liệu, nhất là công việc điều tra, khảo sát trên những địa bàn liên quan. Kết quả khảo sát bia ở đình Quảng Bá (Tây Hồ, Hà Nội) cho biết cha Phùng Hưng là Phùng Hạp Khanh, một thủ lĩnh vùng Đường Lâm (thị xã Sơn Tây, Hà Nội) đã tham gia cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan; vùng Điều Yêu (xã Quốc Tuấn, huyện An Dương, Hải Phòng) còn lưu giữ thần tích và một số truyền thuyết về hoạt động của ba người con của Mai Thúc Loan là Mai Bảo Sơn, Mai Thị Cầu và Mai Kỳ Sơn ở vùng duyên hải trọng yếu này; thôn Hòa Mục (phường Trung Hòa, huyện Cầu Giấy, Hà Nội) có đền Dục Anh thờ bà Phạm Thị Uyển là vợ thứ của Mai Thúc Loan với thần phả và truyền thuyết về cuộc chiến đấu chống quân Đường...Những phát hiện đó hé ra khả năng có thể tìm kiếm thêm những tư liệu để xác minh và góp phần bổ sung những ghi chép quá sơ lược của sử sách. Trong gần 10 năm tồn tại của chính quyền Mai Hắc Đế cũng để lại chỗ trống vắng về tổ chức và hoạt động của chính quyền độc lập của vua Mai. Cuộc chiến đấu chống cuộc đàn áp của quân Đường do Dương Tư Húc chỉ huy, sử nhà Đường chép quá đơn giản mà một số tư liệu, truyền thuyết vùng quanh phủ thành An Nam và nhất là vùng Vạn An, có thể bổ sung thêm một số thông tin mới.
7. Cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan bùng nổ và giành thắng lợi vào thời thịnh Đường mà đỉnh cường thịnh của đế chế là dưới đời vua Đường Thái Tông (626-649) và Đường Huyền Tông (712-756). Cuộc khởi nghĩa tận dụng được thời cơ lúc đế chế Đường gặp một số khó khăn về xung đột cung đình và tranh giành quyền lực diễn ra vào sau đời Đường Thái Tông đến đầu đời Đường Huyền Tông. Nhưng rõ ràng đây là thắng lợi vô cùng oanh liệt của một cuộc khởi nghĩa dân tộc, giành và giữ chính quyền, xưng đế hiệu trong gần 10 năm. Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu mà hội thảo đã xác định, cần có một nhận thức mới và một sự tôn vinh xứng đáng đối với người anh hùng Mai Thúc Loan và sự nghiệp cứu nước của nhân dân Hoan Châu và nhân cả nước trên con đường đấu tranh chống Bắc thuộc đi đến giành lại độc lập hoàn toàn vào thế kỷ X. 
Từ nhận thức trên, Hội thảo nhất trí kiến nghị:
a. Các cơ quan có trách nhiệm về biên soạn sách giáo khoa, về biên soạn lịch sử cần đính chính lại các sai lầm trước đây về khởi nghĩa Mai Thúc Loan như cho rằng cuộc khởi nghĩa bùng nổ và thất bại trong năm 722, về truyền thuyết đi phu cống vải, đồng thời cần viết lại cuộc khởi nghĩa Hoan Châu (713-722) với qui mô to lớn, thắng lợi oanh liệt và ý nghĩa lịch sử trọng đại mà những tư liệu mới sưu tầm và xác minh đã cho phép khẳng định.
b. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, lãnh đạo tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh cần có kế hoạch bảo tồn, tôn tạo các di tích liên quan đến Mai Hắc Đế, đặc biệt cụm di tích ở xã Nam Thái, thị trấn Nam Đàn như miếu mộ mẹ vua Mai, đền thờ vua Mai, miếu mộ Mai Hắc Đế, Mai Thiếu Đế, di tích thành Vạn An, tổ chức lễ hội vua Mai..., nâng cao niềm tự hào và tôn vinh đối với công lao, cống hiến của người anh hùng.

c. Các cơ quan nghiên cứu ở Nghệ An và trung uơng nên phối hợp xây dựng kế hoạch tiếp tục điều tra, nghiên cứu, phát hiện và xác minh những tư liệu về Mai Thúc Loan và cuộc khởi nghĩa Hoan Châu, bổ sung tư liệu và làm sáng rõ thêm một số vấn đề đang tồn tại về sự kiện lịch sử trọng đại này. Thành Vạn An còn một ít di tích, nên tiến hành điều tra, khảo sát kỹ trên mặt đất và đào thám sát khảo cổ học để cố gắng xác định niên đại và qui mô, cấu trúc của tòa thành.

Phản hồi ý kiến   In tin   
 Trở về đầu trang Trở về đầu trang  

 

© 2008 Bản quyền của Trường Đại học Vinh

Địa chỉ: 182 Lê Duẩn - Thành Phố Vinh - tỉnh Nghệ An Điện thoại: (038)3855452 Fax: (038)3855269 Email: vinhuni@vinhuni.edu.vn; Website: www.vinhuni.edu.vn Chịu trách nhiệm nội dung: PGS.TS.NGƯT Đinh Xuân Khoa - Hiệu trưởng Trường Đại học Vinh